Website liên kết

Các liên kết khác

Tài nguyên - Thư viện

Thành viên trực tuyến

3 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Hỗ trợ trực tuyến

    • (Đỗ Văn Binh)

    Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    Chào mừng quý vị đến với Thư viện KHOA HỌC XÃ HỘI Đỗ Văn Binh.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Trang thơ > Những bài thơ đi cùng năm tháng >

    Núi đôi

           Núi đôi

    Bảy năm về trước em mười bảy,
    Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng.
    Xuân Dục, Đoài Đông hai cánh lúa,
    Bữa thì em tới bữa anh sang.

    Lối ta đi giữa hai sườn núi
    Đôi ngọn nên làng gọi núi Đôi
    Em vẫn đùa anh sao khéo thế
    Núi chồng, núi vợ đứng song đôi.

    Bỗng cuối mùa chiêm quân giặc tới
    Ngõ chùa cháy đỏ những thân cau
    Mới ngỏ lời thôi đành lỗi hẹn
    Đâu ngờ từ đó mất tin nhau.

    Anh vào bộ đội lên Đông Bắc
    Chiến đấu quên mình năm lại năm
    Mỗi bận dân công về lại hỏi
    Ai người Xuân Dục Núi Đôi chăng.

    Anh nghĩ quê ta giặc chiếm rồi
    Trăm nghìn căm uất bao giờ nguôi
    Mỗi tin súng nổ vùng đai địch
    Sương trắng người đi lại nhớ người.

    Đồng đội có nhau thường nhắc nhở
    Trung du làng nước vẫn chờ trông
    Núi Đôi bốt dựng kề ba xóm
    Em vẫn đi về những bến sông.

    Náo nức bao nhiêu ngày trở lại
    Lệnh trên ngừng bắn anh về xuôi
    Hành quân qua tắt đường sang huyện
    Anh ghé thăm nhà thăm núi Đôi.

    Mới đến đầu ao tin sét đánh
    Giặc giết em rồi, dưới gốc thông
    Giữa đêm bộ đội vây đồn Thứa
    Em sống trung thành, chết thủy chung.

    Anh ngước nhìn lên hai dốc núi
    Hàng thông, bờ cỏ, con đường quen
    Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói
    Núi vẫn đôi mà anh mất em.

    Dân chợ Phù Linh ai cũng bảo
    Em còn trẻ lắm, nhất làng trong
    Mấy năm cô ấy làm du kích
    Không hiểu vì sao chẳng lấy chồng.

    Từ núi qua thôn đường nghẽn lối
    Xuân Dục Đoài Đông cỏ ngút đầy
    Sân biến thành ao nhà đổ chái
    Ngổn ngang bờ bụi cánh dơi bay,

    Cha mẹ dìu nhau về nhận đất
    Tóc bạc thương từ mỗi gốc cau
    Nứa gianh nửa mái lều che tạm
    Sương nắng khuấy dần chuyện xót đau.

    Anh nghe có tiếng người qua chợ
    Ta gắng mùa sau lúa sẽ nhiều
    Ruộng thấm mồ hôi từng nhát cuốc
    Làng ta rồi đẹp biết bao nhiêu.

    Nhưng núi còn kia anh vẫn nhớ
    Oán thù còn đó anh còn đây
    Ở đâu cô gái làng Xuân Dục
    Đã chết vì dân giữa đất này?

    Ai viết tên em thành liệt sĩ
    Bên những hàng bia trắng giữa đồng
    Nhớ nhau anh gọi em, đồng chí
    Một tấm lòng trong vạn tấm lòng.

    Anh đi bộ đội sao trên mũ
    Mãi mãi là sao sáng dẫn đường
    Em sẽ là hoa trên đỉnh núi
    Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm.

                        VŨ CAO


    Nhắn tin cho tác giả
    Đỗ Văn Binh @ 18:21 01/06/2009
    Số lượt xem: 1319
    Số lượt thích: 0 người
    Avatar

     

     Núi vẫn đôi mà thơ mất ông

    Có những tác phẩm văn học gắn với một địa danh đã làm nổi tiếng một vùng đất, một ngọn núi, dòng sông. Trường hợp bài thơ Núi Đôi của Vũ Cao là như vậy.

    Nghe đọc nội dung toàn bài:

    Ra đời ngay sau khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp, dựa trên một câu chuyện thật được nghe kể lại, nhà báo quân đội Vũ Hữu Chỉnh vụt trở thành nhà thơ Vũ Cao bằng bài thơ kể về một chuyện tình bi tráng gắn với ngọn núi Đôi ở một vùng trung du.

    Thế là nhờ thơ nên “lối ta đi giữa hai sườn núi, đôi ngọn nên làng gọi núi Đôi” đã thành con đường tình yêu, đỉnh núi tình yêu cho những chàng trai cô gái thế hệ sau tiếp bước làm những ngôi sao sáng, những bông hoa thơm khi nước nhà lên tiếng gọi.

    Và nhờ thơ cô gái du kích ở Xuân Dục - Đoài Đông ấy đã được xác thực họ tên trong sổ vàng truyền thống của địa phương. Tên tuổi Vũ Cao gắn liền với bài thơ Núi Đôi trong ánh lung linh của thơ và đời như vậy.

    Sinh năm 1922 tại Nam Định, Vũ Cao nhập ngũ năm 1946, và ông gắn liền cuộc đời binh nghiệp của mình với báo chí quân đội, từ báo Quân Đội Nhân Dân đến tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, từ công việc của một phóng viên đến chức trách của một tổng biên tập.

    Khi cởi áo lính, ông làm giám đốc Nhà xuất bản Hà Nội, chủ tịch Hội đồng thơ (Hội Nhà văn Việt Nam). Nhưng với Vũ Cao, các chức trách phải gánh hình như không làm ông bận tâm. Điều ông muốn là được sống thật lòng mình với đời, với người.

    Thơ đến với ông những khi cảm xúc được chắt lọc và thăng hoa, ông muốn trải lòng mình với con người và cảnh vật trong những vần thơ nhẹ nhàng, giàu nhạc điệu và tình cảm.

    Ngay cả khi viết văn xuôi thì văn Vũ Cao cũng rất thơ. Mảng văn xuôi của ông dường như bị khuất lấp sau bóng Núi Đôi, nhưng ở cái truyện thường được nhắc tới nhất của ông thì tên truyện đã có thơ rồi - truyện Một đoạn thơ sông Đà.

    Sinh thời Vũ Cao là người hồn hậu, vui vẻ. Dáng người ông cao lớn (cho nên bút danh của ông là từ biệt hiệu thuở trong quân ngũ) luôn đi cùng tiếng cười sảng khoái, nồng nhiệt. Bây giờ (3-12-2007) ông nằm xuống, từ nay núi vẫn đôi mà thơ mất ông. Nhưng thơ thay ông ở lại với đời kể tiếp câu chuyện tình núi Đôi và gửi đến những đôi lứa ngày sau tấm lòng thơ yêu người của ông.

    PHẠM XUÂN NGUYÊN

     
    Gửi ý kiến