Chào mừng quý vị đến với Thư viện KHOA HỌC XÃ HỘI Đỗ Văn Binh.
Lịch sử cuốn Lịch
Lịch qua các thời đại
![]() |
![]() |
| Lịch thời Trung Đại | Lịch ghi lịch sử của Đức năm 1550 |
Lịch được lập ra năm 753 trước công nguyên, từ chu kỳ mặt trăng, nên có nhiều sai lệch so với chu kỳ mặt trời, phải trải qua nhiều sửa đổi mới có được quyển lịch chính xác như ngày nay.
Năm 532, cha đạo Denys le Petit, hiệu chỉnh bản tính ngày lễ Phục Sinh kể từ khi Đấng Christ ra đời, mà ông định ngày 25/12 năm 753 Rome. Năm Rome thứ 754 trở thành năm 1 (không có năm 0). Kiểu tính toán này được nước Pháp dùng kể từ thế kỷ thứ 8. Sau đó người ta nhận thấy rằng Denys đã tính lầm ít nhất 4 năm. Năm 2000 đáng lý ra phải là năm 2005.
Năm 1515 Copernic tham dự cuộc sửa đổi lịch.
1582 Gregory III mời các nhà thiên văn Lilio, Clavius và Chacon thành lập một cuốn lịch mới và nhận thấy rằng theo mặt trời thì César tính trễ mất 10 ngày nên giáo hoàng cho nhảy lên 10 ngày cho Rome và các nước Espagne và Portugal: sau ngày 4/10/1582 là ngày 15/10/1582. Nước Pháp theo trễ hơn, tới 9/12/1582 mới đổi, còn Anh quốc thì đợi đến 2/8 năm 1752 mới thêm 11 ngày (sau ngày 2/9 là 14/9/1752)
Thế kỷ thứ 14, ngày tháng được học ở trường.
Cuối thế kỷ thứ 16 những người có học biết họ hiện đang ở ngày, tháng, năm nào nhờ quyển lịch và từ đó họ có thể ghi lại những biến cố xảy ra. Không có lịch, sẽ không có lịch sử.
Từ thế kỷ thứ 16 đến thế kỷ 19, Âu châu bành trướng, làm cả thế giới biết tới lịch Grégorien: các dân tộc thuộc địa Mỹ châu, Á châu và Phi châu phải dùng lịch của chính quốc và sau khi đuợc độc lập, họ vẫn tiếp tục dùng lịch này.
Khoảng 1550 những quyển lịch ghi lịch sử xuất hiện ở Đức:
Thế kỷ thứ 17, lịch được dùng để tổ chức tương lai. Từ năm 1679, Hàn lâm viện khoa học mỗi năm in môt quyển lịch chính thức và từ đó sẽ in lại trong hầu hết các sách lịch (almanach).
Thế kỷ 19 sổ nhật ký (agenda) và lịch được phổ biến từ từ. Hình thức quyển lịch giống như lịch hiện nay chúng ta dùng : những ngày trong tuần và số ngày trong tháng.
Năm 1834, cha đạo Marc Mastrofini đề nghị ngày cuối năm đó sẽ là "ngày trắng" tức là không tính, để cho mọi ngày khác gom lại đúng 52 tuần lễ (52x7=364 ngày).
1849, Auguste Compte làm lịch gồm 13 tháng đồng đều, tiếp theo 1 "ngày trắng".
Camille Flammarion, sau khi kêu gọi chống lại lịch gregorien, ông làm một quyển lịch muôn đời gồm 12 tháng có những tam cá nguyệt như nhau (calendrier universel)
1884 người ta chia ra các múi giờ: trái đất được chia thành 24 múi xẻ dọc từ Bắc xuống Nam với kinh tuyến Greenwich làm chuẩn.
Từ năm 1922, Hội các quốc gia thành lập một ủy ban nghiên cứu về sự sửa đổi lịch và kết luận là không thay đổi lịch nữa nhưng phải có một ngày ổn định cho ngày lễ Pâques.
ONU Hội Quốc Liên, thấy rằng lịch gregorien không thích hợp với sinh hoạt kinh tế hiện tại nên có ý định sửa lịch cho thế kỷ 21 (đã rao một kỷ thi tuyển quốc tế)
Lịch các nước
A) Lịch La Mã
I) Lịch thời cổ Roma Numa Pompilius :
Từ lúc đầu, lịch được lập ra từ chu kỳ mặt trăng. Năm 753 trước công nguyên, thời kỳ Roma thành lập, một năm có 10 tháng như sau:
| 1 | Martius | 31 ngày | 7 | Sextilis | 29 ngày |
| 2 | Aprilis | 30 ngày | 8 | September | 29 ngày |
| 3 | Maïus | 31 ngày | 9 | October | 31 ngày |
| 4 | Junius | 30 ngày | 10 | November | 29 ngày |
| 5 | Quintilis | 31 ngày | 11 | December | 29 ngày |
1) Đặt tên tháng:
Lúc đầu, người ta đặt tên theo thứ tự số học nhưng cuối cùng họ quyết định dùng tên các vị thần để thế vài tháng:
Tháng thứ nhất lấy tên thần chiến tranh Mars theo truyện thần thoại Roma vì thần Mars còn được xem là thần cây cối, mùa xuân và tuổi trẻ. Từ rất lâu, Mars là tháng đầu tiên của năm.
Tháng thứ nhì lấy tên Aperta, biệt hiệu của Apollon, vị thần của nghệ thuật (âm nhạc), của y khoa, của tiên tri và bói toán. Đầu tiên, miền Bắc Hy Lạp, Apollon còn được gọi là Phoebos, thần mặt trời.
Tháng thứ ba là Maïus, tên phổ biến của thần Jupiter
Tháng thứ tư là Junon, vợ của Jupiter
Những tháng khác tiếp tục dùng số [tiếp đầu ngữ la tinh quin (5), sex (6), sept(7), oct (8), no (9) dec (10)]
2) Sửa đổi lịch cho hợp với chu kỳ mặt trời
a) Thêm 2 tháng
Tổng cộng 10 tháng trên sẽ được một năm 304 ngày, nên người ta phải thêm ngày vô cho những tháng cuối để đủ một năm dương lịch, nhưng không đặt tên. Cuối cùng người ta thêm hai tháng để đằng sau tháng December là Januarius, tên của vị vua Roma xưa nhất là Janus và là thần hòa bình. Tháng thêm tiếp theo là Februarius.
Người Roma mê tín, cho là ngày lẻ mang hạnh phúc, nên chọn số ngày lẻ cho mọi tháng:
| 1 | Januarius | 31 ngày | 7 | Sextilis | 29 ngày |
| 2 | Martius | 31 ngày | 8 | September | 29 ngày |
| 3 | Aprilis | 29 ngày | 9 | October | 31 ngày |
| 4 | Maïus | 31 ngày | 10 | November | 29 ngày |
| 5 | Junius | 29 ngày | 11 | December | 29 ngày |
| 6 | Quintilis | 31 ngày | 12 | Februarius | 27 ngày |
b) Thêm 1 ngày cho Februarius
Tổng cộng lại được 354 ngày. Lại số chẵn, nên họ thêm một ngày cho tháng cuối cùng là Februarius, từ 27 thành 28 ngày và được xem như là tháng tệ nhất, lấy tên của Febro, thần của những người chết dưới địa ngục. Đó là tháng của sự chết chóc, trong tháng này, người ta xin tha tội, làm lễ tẩy uế cho người chết và cũng là tháng mang bệnh hoạn (febris, sốt).
| 1 | Januarius | 31 ngày | 7 | Sextilis | 29 ngày |
| 2 | Martius | 31 ngày | 8 | September | 29 ngày |
| 3 | Aprilis | 29 ngày | 9 | October | 31 ngày |
| 4 | Maïus | 31 ngày | 10 | November | 29 ngày |
| 5 | Junius | 29 ngày | 11 | December | 29 ngày |
| 6 | Quintilis | 31 ngày | 12 | Februarius | 28 ngày |
c) Đổi vị trí của Februarius
Khoảng năm 354 TCN, Februarius được đưa lên giữa Januarius và Martius và trở thành tháng thứ 2 trong năm.
| 1 | Januarius | 31 ngày | 7 | Sextilis | 29 ngày |
| 2 | Februarius | 28 ngày | 8 | Quintilis | 31 ngày |
| 3 | Martius | 31 ngày | 9 | September | 29 ngày |
| 4 | Aprilis | 29 ngày | 10 | October | 31 ngày |
| 5 | Maïus | 31 ngày | 11 | November | 29 ngày |
| 6 | Junius | 29 ngày | 12 | December | 29 ngày |
Năm dương lịch 355 ngày này chỉ hơn 1 ngày so với năm âm lịch 354 ngày. Vì năm ngắn hơn thực tế trong lúc nhà nông dựa trên mùa màng để cầy cấy nên họ thêm ngày vô để có lịch thích hợp. Họ quyết định cứ mỗi chu kỳ 4 năm là phải thêm một tháng 13. Tháng bổ sung có tên là Mercedonius, vì họ cho rằng lúc này lính đánh thuê (mercenaire) được trả lương. Tháng này, khi thì 23 ngày được xếp giữa 24 và 25 tháng Februarius, khi thì 22 ngày và được xếp giữa 23 và 24 tháng này.
Nói rõ hơn, trong chu kỳ 4 năm, thì năm đầu có 355 ngày, năm thứ nhì có 355 + 22 = 377 ngày, năm thứ 3 có 355 ngày và năm thứ tư có 378 ngày.
Cách tính lịch này cho cả thảy 1465 ngày cho 4 năm, trong lúc thực tế chỉ có 1461 ngày, nghĩa là dư 4 ngày. Từ năm quá ngắn bước sang năm quá dài.
Để sửa chữa tình trạng này, năm La Mã 450 (304 TCN) luật Roma đổi lịch mới. Trong chu kỳ 8 năm, người ta chỉ dùng 5 tháng 22 ngày, thay vì 6 tháng 22 ngày. Vì cứ 4 năm là dư 4 ngày, nên 24 năm thì dư một tháng 24 ngày, do đó khi bỏ 1 tháng 22 ngày thì chỉ dư 2 ngày. Để sửa chữa sự thặng dư này, tháng Mercedonius được đổi số ngày để có sự trùng hợp giữa năm trên lịch và năm thực tế.
II) Lịch Julien
Nhưng sau đó vì lợi ích của những quan viên khi bầu cử, sự sai sót của lịch ngày càng lớn, cuối cùng năm 708 Roma (46 TCN), điểm phân (équinoxe, xuân phân và thu phân) sai biệt đến 3 tháng. Nghĩa là mùa gặt vào tháng 1, tháng lạnh nhất!
Chính lúc đó danh tướng Roma Julius Caesar can thiệp. Để chấm dứt sự lạm dụng của các chính trị gia lúc bấy giờ, Julius Caesar phái một nhà thiên văn Hy Lạp tên là Sosigene xứ Alexandrie sửa đổi lịch mùa màng cho thích hợp với lịch (nguồn gốc Ai Cập) thiết lập bởi nhà thiên văn Hy Lạp Eudoxe vào thế kỷ thứ 4 TCN.
Lịch Julien có 365 ngày, chia thành 12 tháng và cứ 4 năm là thêm 1 ngày. Lịch này vẫn còn dùng cho đến thế kỷ 20 trong một số nước.
1) Lịch Julien, theo Sacrobosco
| 1 | Januarius | 31 ngày | 7 | Julius | 31 ngày |
| 2 | Februarius | 29-30 ngày | 8 | Sextilis | 30 ngày |
| 3 | Martius | 31 ngày | 9 | September | 30 ngày |
| 4 | Aprilis | 30 ngày | 10 | October | 31 ngày |
| 5 | Maïus | 31 ngày | 11 | November | 30 ngày |
| 6 | Junius | 30 ngày | 12 | December | 30 ngày |
Caesar ra sắc lệnh mỗi năm theo hành trình mặt trời, sẽ có 365 ngày, và vì dư 6 giờ một năm, nên thêm 1 ngày sau 4 năm, để ngày đó vô sau ngày 24 tháng Februarius , và lịch có tên là sexto ante calendas martii , năm nào chứa ngày nhuần sẽ là năm nhuần. Người ta trải đều xen kẽ một tháng 30 ngày với tháng 31 ngày, trừ tháng Februarius
| 1 | Januarius | 31 ngày | 7 | Julius | 31 ngày |
| 2 | Februarius | 29-30 ngày | 8 | Sextilis | 30 ngày |
| 3 | Martius | 31 ngày | 9 | September | 31 ngày |
| 4 | Aprilis | 30 ngày | 10 | October | 30 ngày |
| 5 | Maïus | 31 ngày | 11 | November | 31 ngày |
| 6 | Junius | 30 ngày | 12 | December | 30 ngày |
Sự cải tổ này của Julius nên tháng Quintilis được thay thế bởi tháng Julius. Nhưng sự cải tổ này không được áp dụng đúng. Những nhà làm luật thêm ngày nhuần 3 năm 1 lần thay vì 4 năm như đã tính. Vậy là sau 36 năm, có tới 12 năm nhuần thay vì 9 năm.
2) August sửa đổi lịch Julien
|
Julius Caesar |
Augustus Caesar |
Giáo hoàng Gregory XIII |
May thay August thấy được, nên ra lệnh liên tục 12 năm tới, không được thêm một năm nhuần nào hết. Vậy là lịch julien được trở lại chính xác. Để thưởng cho việc này, năm 746 Roma (8 TCN) thượng viện Roma lấy tên của August đặt thế cho tháng Sextilis. Sau đó người ta thấy rằng August không thua Julius, nên san bằng ngày cho tháng August và Julius, nghĩa là lấy bớt 1 ngày của tháng Februarius bỏ qua tháng Julius, tức là cả hai được 31 ngày.
| 1 | Januarius | 31 ngày | 7 | Julius | 31 ngày |
| 2 | Februarius | 28-29 ngày | 8 | August | 31 ngày |
| 3 | Martius | 31 ngày | 9 | September | 31 ngày |
| 4 | Aprilis | 30 ngày | 10 | October | 30 ngày |
| 5 | Maïus | 31 ngày | 11 | November | 31 ngày |
| 6 | Junius | 30 ngày | 12 | December | 30 ngày |
Sau đó để tránh một lúc 3 tháng 31 ngày liên tục , người ta lấy bớt 1 ngày của September bỏ qua October và cũng như vậy cho tháng November và December:
| 1 | Januarius | 31 ngày | 7 | Julius | 31 ngày |
| 2 | Februarius | 28-29 ngày | 8 | August | 31 ngày |
| 3 | Martius | 31 ngày | 9 | September | 30 ngày |
| 4 | Aprilis | 30 ngày | 10 | October | 31 ngày |
| 5 | Maïus | 31 ngày | 11 | November | 30 ngày |
| 6 | Junius | 30 ngày | 12 | December | 31 ngày |
Kể từ ngày đó, số ngày, tháng vẫn giữ từ ngày hoàng đế August cai trị cho tới ngày nay ..
3) Cách chia ngày, tháng, tuần
a) Ngày, tháng
Những ngày trong tháng được rải ra thành 3 phần không đều nhau: từ Calendas cho tới Nonas, từ Nonas cho tới Idus và những Idus ở cuối tháng..
- Kalendis : ngày đầu của tháng. Tên nó từ chữ Calare (công bố) bởi vì ngày này mà người ta đem công bố những ngày quan trọng .
- Idus : từ chữ étrusque iduare nghĩa là phân chia. Những Idus đánh dấu giữa tháng. Ngày 15 cho những tháng Martius, Maius, Julius và October. Ngày 17 cho những tháng khác. Nhớ là người Roma không thích ngày chẵn.
- Nonis : ngày thứ 9 trước ngày Idus. Thí dụ tháng Martius có ngày Idus bắt đầu từ ngày 15, thì ngày Nonis là trước ngày (15-9 = 6) thứ 6, tức là thứ 5. Thành ra ngày Nonis bắt đầu từ ngày thứ 5 hay 7 của tháng.
Người Roma thường nói ngày từ sự đánh dấu 3 loại ngày trên. Thí dụ ngày 2 tháng 1 thì nói " ngày thứ 4 trước Nonas tháng Januarias" (ante diem quartum nonas Januarias) ...
- Pridie:Trước ngày "đánh dấu" thì gọi là Pridie. Thí dụ Pridie Nonas thì cho ngày hôm trước của ngày nonas.
Thí dụ ngày 4 tháng 1 : Pridie Nonas Januarias
Còn ngày trước ngày pridie lại là ngày thứ 3 trước Nonas cũng như ta nói "trong 8 nghĩa là sau 1 tuần lễ
- Postridie: Sau ngày "đánh dấu" thì gọi là postridie. Thí dụ ngày 2/1 : ngày thứ 4 trước Nonas tháng Januarias" ( ante diem quartum Nonas Januarias)
hay còn gọi là sau ngày Kalendas tháng Januarias (postridie kalendas Januarias)
Còn ngày cuối tháng thì gọi là trước ngày kalendas (pridie Kalendas)
| 1 | Kalendis Januariis |
| 2 | ante diem quartum Nonas Januarias ou postridie kalendas Januarias |
| 3 | Ante diem tertium Nonas Januarias |
| 4 | Pridie Nonas Januarias |
| 5 | Nonis januariis |
| 6 | Ante diemoctavum Idus Januarias ou postridie Nonas Januarias |
| 7 | Ante diem septimum Idus Januarias |
| 8 | Ante diem sextum Idus Januarias |
| 9 | Ante diem quintum Idus Januarias |
| 10 | Ante diem quartum Idus Januarias |
| 11 | Ante diem tertium Idus Januarias |
| 12 | Pridie idus Februarias |
| 13 | Idibus Januariis |
| 14 | ante diem undevicesimum Kalendas Februarias ou postridie idus Januarias |
| 15 | ante diem duodevicesimum Kalendas Februarias |
| 16 | ante diem septimum decimum Kalendas August |
| 17 | ante diem sextum decimum Kalendas August |
| 18 | ante diem quintum decimum Kalendas August |
| 19 | ante diem quartum decimum Kalendas August |
| 20 | ante diem tertium decimum Kalendas August |
| 21 | ante diem duodecimum Kalendas Augusts |
| 22 | ante diem undecimum Kalendas August |
| 23 | ante diem decimum Kalendas August |
| 24 | ante diem nonum Kalendas August |
| 25 | ante diem octavum Kalendas August |
| 26 | ante diem septimum Kalendas August |
| 27 | ante diem sextum Kalendas August |
| 28 | ante diem quintum Kalendas August |
| 29 | ante diem quartum Kalendas August |
| 30 | ante diem tertium Kalendas August |
| 31 | Pridie Kalendas August |
b) Ý nghĩa chữ la tinh những số:
| 2 : pridie (PR) | 3 : tertium (III) | 4 : quartum (IV) |
| 5 : quintum (V) | 6 : sextum (VI) | 7 : septimum (VII) |
| 8 : octavum (VIII) | 9 : nonum (IX) | 10: decimum (X) |
| 11 : undecimum (XI) | 12 : duodecimum (XII) | 13 : tertium decimum (XIII) |
| 14 : quartum decimum (XIV) | 15 : quintum decimum (XV) | 16 : sextum decimum (XVI) |
| 17 : septimum decimum (XVII) | 18 : duodevicesimum (XVIII) | 19 : undevicesimum (XIX) |
c) Cấu trúc của năm:
|
Januarius
Augustus December |
Aprilis
Junius September November |
Martius
Maius Julius October |
Februarius
(năm thường) |
Februarius
(năm nhuận) |
|
| 1 | Kalendis | Kalendis | Kalendis | Kalendis | Kalendis |
| 2 | IV | IV | VI | IV | IV |
| 3 | III | III | V | III | III |
| 4 | Pridie Nonas | Pridie Nonas | IV | Pridie Nonas | Pridie Nonas |
| 5 | Nonis | Nonis | III | Nonis | Nonis |
| 6 | VIII | VIII | Pridie Nonas | VIII | VIII |
| 7 | VII | VII | Nonae | VII | VII |
| 8 | VI | VI | VIII | VI | VI |
| 9 | V | V | VII | V | V |
| 10 | IV | IV | VI | IV | IV |
| 11 | III | III | V | III | III |
| 12 | Pridie Idus | Pridie Idus | IV | Pridie Idus | Pridie Idus |
| 13 | Idibus | Idibus | III | Idibus | Idibus |
| 14 | XIX | XVIII | Pridie Idus | XVI | XVI |
| 15 | XVIII | XVII | Idibus | XV | XV |
| 16 | XVII | XVI | XVII | XIV | XIV |
| 17 | XVI | XV | XVI | XIII | XIII |
| 18 | XV | XIV | XV | XII | XII |
| 19 | XIV | XIII | XIV | XI | XI |
| 20 | XIII | XII | XIII | X | X |
| 21 | XII | XI | XII | IX | IX |
| 22 | XI | X | XI | VIII | VIII |
| 23 | X | IX | X | VII | VII |
| 24 | IX | VIII | IX | VI | VI |
| 25 | VIII | VII | VIII | V | bis VI |
| 26 | VII | VI | VII | IV | V |
| 27 | VI | V | VI | III | IV |
| 28 | V | IV | V | Pridie Kalendas | III |
| 29 | IV | III | IV | 31 | Pridie Kalendas |
| 30 | III | Pridie Kalendas | III | 31 | 4 năm một lần |
| 31 | Pridie Kalendas | 31 | Pridie Kalendas | 31 |

http://www.louisg.net/C_mesopotamiens.htm
d) Tháng đầu tiên trong lịch Roma
Joannes Lamentius Lydus, (nửa đầu thế kỷ thứ VI) viết trong De mensibus (tháng) rằng người Roma phân biệt giữa năm tôn giáo bắt đầu tháng 1, năm truyền thống bắt đầu tháng 3, cũng như ta bây giờ, đầu năm âm lịch là tháng 2, đầu năm học là tháng 9 vậy.
e) Những ngày trong Tuần:
Đối với người Hébreux Chúa đã tạo ra con người trong 6 ngày và nghỉ vào ngày thứ 7.
Từ thời Trung cổ, người ta mới bắt đầu dùng tuần lễ
Thời Cộng hòa Roma ( 509 TCN đến 27 TCN ) và Haut Empire (27 TCN đến 236), tuần lễ được chia ra làm 8 ngày, ghi thứ tự từ A đến H trên những quyển lịch. Người Babylone lấy tên của 7 hành tinh khám phá ra lúc bấy giờ . Người Roma dùng mỗi hành tinh để hiến cho thần với hành tinh liên hệ:
| Chữ Latin | Chữ Ý | Giải thích |
| Solis dies | Domenica | Chúa nhật, ngày của Mặt trời, hành tinh hiến cho Apollon. Tiếng Pháp chữ "dimanche" viết theo "dies domenicus" , ngày của Chúa, ngày dành để cầu nguyện và xem như là ngày đầu của một tuần. |
| Lunae dies | Lunedi | Thứ hai, ngày của Mặt trăng |
| Martis dies | Martedi | Thứ ba, ngày của/3/, hành tinh cung hiến cho thần Chiến tranh vì là hành tinh màu đỏ. |
| Mercurii dies | Mercoledi | Thứ tư, ngày của Mercure , thần thương mại, du lịch, vận tốc, Mercure cũng là sứ thần của các vị thần. |
| Jovis dies | Giovedi | Thứ năm, ngày của Jupiter, hành tinh lớn nhất của hệ Mặt trời. Jupiter là súy chủ các vị thần, cai trị Olyme, nơi đó thần là những cơn sấm sét. |
| Veneris dies | Venerdi | Thứ sáu, ngày của Vénus, hành tinh hiến cho nữ thần Tình yêu planète dédiée |
| Saturni dies | Sabbato | Thứ bảy ngày của Saturne , hành tinh xa xôi nhất và chậm nhất của hệ Mặt trời, cung hiến cho vị thần xa xưa nhất đã dạy loài người về ngành canh nông |

Vui lòng chờ...Đỗ Văn Binh @ 20:30 21/03/2010
Số lượt xem: 1452
- Bếp điện ứng từ (13/11/09)
- Lịch sử mã vạch (28/09/09)
- Bệnh lao phổi (25/09/09)
- Mendeleev (1834-1907) cha đẻ của Bảng phân loại tuần hoàn các Nguyên tố (25/09/09)
- Nguồn gốc HIV và AIDS (27/06/09)




Các ý kiến mới nhất